Tiếp cận và chẩn đoán chấn thương cột sống ngực

Chấn thương cột sống lưng (ngực) ít gặp hơn chấn thương cột sống thắt lưng nhưng do cơ chế dẫn đến chấn thương phức tạp, hình thái của tổn thương cột sống đa dạng nên khó khăn cho việc chấn đoán.

chấn thương cột sống ngực

Chấn thương cột sống ngực

Tiếp cận bệnh nhân chấn thương cột sống ngực

Hỏi bệnh

  • Thời gian, hoàn cảnh và nguyên nhân tai nạn để xác định cơ chế chấn thương
  • Cách xử trí ban đầu khi xảy ra tai nạn
  • Tình trạng lúc xảy ra tai nạn: Đau tại chỗ vùng ngực, các dấu hiệu thần kinh (tê chân, yếu chân…)

Khám toàn thân

  • Có thể có tình trạng suy hô hấp do liệt các cơ liên sườn khi chấn thương cột sống lưng, tràn máu tràn khí màng phổi kèm theo: biểu hiện thở nhanh , nông , cánh mũi phập phồng, các cơ liên sườn không di động.
  • Có thể có sốc gặp trong đa chấn thương.

Khám lâm sàng thần kinh

Khám cột sống:

  • Cần khám bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa trên ván cứng hoặc nằm sấp trên vòng mềm
  • Cởi quần áo để quan sát được các gai sống
  • Bệnh nhân nằm sấp : Quan sát vị tri sưng nề, sây sát, bầm tím vùng lưng – thắt lưng, cơ nổi hằn 2 bên vị trí chấn thương. ấn ở mấu gai hay gõ dọc theo mấu gai tìm điểm đau chói
  • Bệnh nhân nằm ngửa :Luồn tay để nắn các mỏm gai,  tìm chỗ hẫng , điểm đau chói, thấy các cơ cạnh cột sống co cứng.
  • Bụng chướng do liệt ruột.

Khám vận động:

Đánh giá tình trạng vận động theo thang điểm từ 0 đến 5 điểm, nếu có liệt thì xác định liệt cứng hay mềm, phản xạ gân xương

          Thang điểm vận động
0 điểm: Không vận động
1 điểm: Có thấy co cơ
2 điểm: Co cơ không có trọng lực
3 điểm: Vận động có trọng lực
4 điểm: Vận động chống lại đối trọng
5 điểm: Vận động bình thường

Khám cảm giác:

Theo các chuyên gia đến từ ban tuyển sinh Cao đẳng Y dược cho biết phải xác định được ranh giới giữa vùng rối loạn cảm giác với vùng cảm giác bình thường để biết vị trí thương tổn.

Phân vùng cảm giác

Khám đánh giá tình trạng cơ tròn

Bí đại tiểu tiện hoặc đại tiểu tiện không tự chủ.

Phân loại tổn thương tủy sống

  • Tổn thương hoàn toàn và không hoàn toàn:

Dựa vào lâm sàng tổn thương tủy sống hoàn toàn khi bệnh nhân mất hoàn toàn chức năng vận động, cảm giác và phản xạ dưới tổn thương sau khi chấm dứt giai đoạn choáng tủy; độ nặng của tổn thương TS hoàn toàn tỉ  lệ nghịch với vị trí giải phẩu.

Đánh giá dựa vào thang điểm Frankel và hiệp hội chấn thương cột sống Hoa Kỳ = ASIA (American Spinal Injury Association Scale) .

Phân loại CTTS theo Frankel.

Loại Triệu chứng
A Không còn vận động cảm giác nào cả
B Còn cảm giác, không có vận động
C Có vận động nhưng không hữu hiệu
D Có vận động hữu hiệu
E Hoạt động cảm giác, vận động bình thường

Phân loại theo ASIA. Theo Greenberg MS, 2006.

Cận lâm sàng

X.Quang qui ước

Loại Mô  tả
A Hoàn toàn: mất hoàn toàn cảm giác hay vận động ở đoạn S4-S5.
B Không hoàn toàn: còn cảm giác nhưng không có vận động dưới tổn thương (bao gồm đoạn S4-S5)
C Không hoàn toàn: còn vận  động dưới nơi tổn thương (trên 50% các cơ chính dưới thương tổn <3).
D Không hoàn toàn: còn vận  động dưới tổn thương (trên 50% các cơ chính có sức cơ >=3).
E Bình thường: cảm giác và vận động bình thường.
  • Nếu chụp tốt, đúng nguyên tắc thì 80 – 90% thấy được thương tổn bằng chụp X.Quang qui ước
  • Chụp  phim thẳng, nghiêng và chếch 3/4 để tìm thương tổn xương
  • Phim chụp phải thấy được các đốt sống từ D1- L2

Các yếu tố cần nhận định là:

  • Đường cong sinh lý và sự liên tục của cột sống
  • Trạng thái của các đốt sống, trục cột sống
  • Khoảng cách giữa các đốt sống và các khớp

Hình ảnh các đốt sống ngực

Hình ảnh các đốt sống ngực

Chụp cắt lớp cột sống

  • Vị trí chỉ định chụp cắt lớp được xác định trên lâm sàng (ranh giới vùng rối loạn cảm giác với vùng bình thường) và trên hình ảnh nghi ngờ của X.Quang qui ước
  • Cho phép phân tích chi tiết thương tổn xương để xác định tình trạng mất vững; hình ảnh chèn ép ống tủy do các mảnh xương và đĩa đệm

Chụp cộng hưởng từ

Được chỉ định khi trên lâm sàng có thương tổn thần kinh, đây là phương pháp rất tốt để phát hiện thương tổn tủy

Nguồn: yduoclongan.info